Hỏi:
Trả lời:
1. Đối với câu hỏi 1
Nghị định số 104/2026/NĐ-CP quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật NSNN. Tại điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định số 104/2026/NĐ-CP quy định: “Trên cơ sở quyết định phê duyệt nhiệm vụ và quyết định giao dự toán của đơn vị dự toán cấp I, cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách triển khai thực hiện như sau: Đối với nhiệm vụ sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng có dự toán kinh phí thực hiện dưới 500 triệu đồng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý công trình xây dựng tổ chức thực hiện theo quy định; đối với nhiệm vụ sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng có dự toán kinh phí thực hiện từ 500 triệu đồng trở lên đến 20 tỷ đồng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý công trình xây dựng lập, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng công trình để làm căn cứ tổ chức thực hiện”.
Đối với nội dung “Việc lập Báo cáo KTKT đầu tư xây dựng cho nhiệm vụ sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng công trình, có được xem là đã hình thành Dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản không”: Pháp luật về xây dựng không có quy định về việc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật được xem là hình thành dự án. Việc xác định nhiệm vụ nêu trên có phải là dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản theo quy định của pháp luật về xây dựng hay không, đề nghị Quý độc giả căn cứ quy định của pháp luật về xây dựng để thực hiện.
Ngoài ra, Nghị định số 104/2026/NĐ-CP, Luật Xây dựng năm 2025 không quy định khái niệm “Mã dự án”.
2. Đối với câu hỏi 2
Điều 4 Nghị định số 104/2026/NĐ-CP quy định như sau: “Việc bố trí chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Nghị định này được thực hiện theo nguyên tắc không trùng lắp với các nhiệm vụ có cùng nội dung của đơn vị đã được bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn theo quy định của pháp luật về đầu tư công; cần phải thực hiện ngay trong năm ngân sách để bảo đảm hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị; đáp ứng tiến độ chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương và dự kiến kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Theo đó, đề nghị Quý độc giả căn cứ theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 104/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan để thực hiện.
3. Đối với câu hỏi 3
Theo quy định tại khoản 6[1] và khoản 7 Điều 4 Luật Đấu thầu,dự án đầu tư tại Luật này bao gồm: chương trình, dự án, nhiệm vụ quy hoạch theo quy định của pháp luật. Dự toán mua sắm là dự kiến nguồn kinh phí để mua sắm trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức, cá nhân khác; dự kiến nguồn kinh phí để mua sắm trong phạm vi nguồn tài chính hợp pháp của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 78 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP[2], một trong các trường hợp chỉ định thầu là gói thầu thuộc dự toán mua sắm không hình thành dự án có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng; gói thầu dịch vụ tư vấn thuộc dự án có giá gói thầu không quá 800 triệu đồng, gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự án có giá gói thầu không quá 02 tỷ đồng.
Như vậy, việc xác định gói thầu thuộc trường hợp chỉ định thầu cần căn cứ các quy định nêu trên.
